Bay bổng với ước mơ của mình...

(trích Hồi ký)

Lê Liên


Ra đời vào giữa mùa hè của đất Thăng Long – Hà Nội mùa sen nở. Tôi được ông nội đặt tên là Lê Thị Liên vào năm Tân Mùi 1931 dưới thời Pháp thuộc và phong kiến.

Bà nội – là con Quan phủ Khoái Châu – người làng Kim Lủ – Bà ngoại được sắc Vua phong “Tiết – Hạnh – Khả - Phong” có con trai được phong “Hồng Lô - Tự Khanh” là bác tôi, nhà viết kịch đầu tiên (Chén thuốc độc – Tòa án lương tâm), chủ nhà in Tân Dân 93 Hàng Bông – Hà Nội - ông Vũ Đình Long.

Bà nội và bà ngoại chịu ảnh hưởng phong kiến, trong khi ông nội đi làm thông phán – nên gọi cụ Thông. Ông ngoại đi làm thư ký – gọi là cụ Ký, cả ông nội và ông ngoại đều mất sớm trong hoàn cảnh giống nhau cũng chỉ có một con trai và năm con gái – Ba tôi và bác tôi đều là con trai duy nhất của gia đình đông con.

Tôi ảnh hưởng nhiều của bên ngoại, mẹ tôi thời xưa cũng đi học, sau phụ giúp bác tôi ở nhà in. Thuở nhỏ tôi hay đọc sách truyện của nhà in như: Tiểu thuyết Thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san và sách truyện nhi đồng như Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài từ thời còn nhà in Tân Dân – Những nhà văn làm việc ở nhà in của bác đa số là bạn của ba tôi như: Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Ngọc Giao, Thanh Châu.

Thời đó tôi học piano với cái đàn Pleyel cũ mua của ông Tây mù Thoraval - đàn hiếm và rất đắt – ít khi trông thấy đàn mới. Mỗi lần lên dây chính ông Thoraval cùng ông Khánh đi theo để lên dây rất cẩn thận, chính xác. Cả Hà Nội hầu như chỉ có cửa hiệu của ông mà ai học piano thời đó đều tín nhiệm.



Năm 1950, sau khi tốt nghiệp Trung học Pháp (B.E.P.C) tôi vào học ở Lycee Albert Sarraut để thi Tú tài Pháp, xong sẽ học ngành Y với nguyện vọng không bỏ piano.

 
Lúc đó, hoàn cảnh gia đình không được như khi còn hiệu sách – Mẹ tôi phải cho thuê nhà để sinh sống thêm và tôi học piano với cụ Duyệt được ít lâu thì cụ cho tôi dạy thêm ở Âm nhạc học xá để đỡ cho gia đình.

Vì thế mẹ tôi đã thuyết phục tôi thi vào khóa nữ hộ sinh Quốc gia của trường Đại học Y dược Hà Nội (Section Des Sages Femmes d’Etat) vừa có học bổng lại chỉ học 3 năm, tốt nghiệp xong có thể mở Nhà hộ sinh tư hoặc đi làm. Vì hoàn cảnh gia đình mà tôi đã phải xin thôi học trường Albert Sarraut khi đỗ đầu vào trường Đại học Y dược Hà Nội để học khóa nữ hộ sinh Quốc gia. Tôi vào học với điều kiện vẫn học piano và đặc biệt là được mang theo piano khi phải ở nội trú trong bệnh viện Bạch Mai. Đó là điều xưa nay chưa từng có ở bệnh viện và cũng là định mệnh của cuộc đời sau này.

Trong quá trình học ở bệnh viện Bạch Mai tôi tham gia hoạt động văn xã trong Tổng hội Học sinh – Sinh viên – Trụ sở 35 phố Hàng Cân từ 1952-1954 tôi được phân công trong ban Quản trị quán ăn cho học sinh – sinh viên nghèo tại trụ sở Hàng Cân, được phân công thành lập Câu lạc bộ cho Học sinh – Sinh viên có nơi giải trí và đọc sách. Tôi đã đặt làm một số bàn ghế, giá sách, bàn billard tại xưởng gỗ Mémo của gia đình họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc với giá đặc biệt vì gia đình cũng có mấy cô con gái học piano.

Khi khánh thành Câu lạc bộ Tổng hội Học sinh - Sinh viên có tổ chức liên hoan và đề nghị tôi biểu diễn piano. Thế là phải mang đàn piano của tôi tới tận gác 3 trụ sở nơi có Câu lạc bộ – Hà Nội thời đó phải có thợ chuyên môn chở đàn piano – chủ yếu cho hiệu ông Thoraval và các gia đình có đàn. Ông cai Lân là người chuyên vận chuyển piano rất an toàn và vui tính. Những lần tôi biểu diễn ở Giảng đường Đại học phố Lê Thánh Tông dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và sau đó giáo sư người Pháp Charles Lilamand mượn Giảng đường để biểu diễn và tuyển học sinh muốn học nâng cao cũng là ông cai Lân chở đàn.

Hà Nội đầu những năm 1950 chưa có trường Âm nhạc chuyên nghiệp nhưng phong trào học nhạc của giới trẻ như học đàn piano, violon, guitare và accordeon rất nhiệt tình và rất có văn hóa của người Hà Nội gốc – Thời đó có Âm nhạc Học xá của cụ Duyệt và Âm nhạc đại chúng chủ yếu dạy accordeon. Ngoài ra còn một số thầy dạy tư người Việt và Pháp. Những kỷ niệm của tôi từ trước khi có trường Âm nhạc Việt Nam gắn liền với cửa hiệu ông Tây mù Thoraval mà tôi còn giữ mấy cuốn sách dán giá tiền bằng chữ nổi của người khiếm thị và ông cai Lân người theo sát nâng niu cái piano cũ của tôi mỗi lần di chuyển. Còn ông Khánh sau này cũng làm một thời ở xưởng nhạc cụ của trường Âm nhạc Việt Nam.

Khoảng đầu năm 1954 Đài phát thanh Hà Nội tổ chức thi hát ở Nhà hát Lớn Hà Nội – nhạc sĩ Thẩm Oánh đề nghị tôi biểu diễn piano – tôi nhớ thời đó vợ của ông là bà Đào cũng dạy piano. Lúc đó tôi còn đang học chuyên môn ở bệnh viện Bạch Mai, đồng thời còn học piano với giáo sư Pháp Charles Lilamand. Không hiểu sao tôi đã chọn bài “Giông tố” (L’Orage của Steibelt). Đó là buổi cuối cùng của tôi với công chúng Hà Nội cũ.

Năm 1955 anh Trần Du, phụ trách trường Nghệ thuật Quân đội, ở Tổng cục Chính trị đề nghị tôi dạy piano cho một số đồng chí ở quân đội – học ở phố Cao Bá Quát – ở đó anh Văn Chung đã giới thiệu cho tôi được gặp chị Thái Thị Liên.

Sau đó, anh Tạ Phước và anh Tô Vũ cũng đến chỗ tôi làm việc ở số 4 Quán Thánh và đã khuyên tôi nếu thích âm nhạc thì nên chuyển hẳn.

Năm 1955 tôi được Hội Văn nghệ mời đi tham quan cải cách ruộng đất cùng với số văn nghệ sĩ Hà Nội.
Năm 1956, trường Âm nhạc chuyên nghiệp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là trường Âm nhạc Việt Nam tiền thân của Nhạc viện Hà Nội thuộc Bộ Văn hóa Thông tin – chuẩn bị khai giảng – tôi được các đồng chí trong Ban Giám hiệu: Anh Tạ Phước và anh Lã Hữu Quỳnh mời tham gia và tôi đã quyết định về Trường Âm nhạc Việt Nam từ khi bắt đầu tuyển sinh rồi khai giảng tại 32 Nguyễn Thái Học. Bước ngoặt cuộc đời, đã làm tôi thoát khỏi một công việc chuyên môn tuy có bằng cấp nhưng không thích hợp với bản chất và tâm hồn của tôi.

Tôi như người được bay bổng với ước mơ của mình – tôi được phân công dạy cho học sinh sơ cấp – học sinh trung cấp cơ bản và môn Piano cho Khoa sáng tác chỉ huy và thanh nhạc từ khóa đầu tiên năm 1956. Lúc đó, tôi là giảng viên trẻ nhất mới 25 tuổi, chị Thái Thị Liên – Chủ nhiệm khoa – lớn tuổi nhất cũng mới 38 tuổi. Ấn tượng nhất là khi thi học kỳ và thi cuối năm của lớp sáng tác – hầu hết là các đồng chí đã hoạt động và sáng tác trong các Đoàn văn công quân đội từ trước năm 1954, đủ các miền Nam – Bắc như các đồng chí: Hoàng Việt, Hồ Bông, Nguyễn Thành… nhiều người còn lớn tuổi hơn hoặc ngang tuổi – khi thi phải đánh piano trước mấy bà giáo và cô giáo trẻ đã phát biểu: “Đánh giặc không run bằng khi đánh piano trước Ban chấm thi”.

Các giảng viên piano đầu tiên từ năm 1956, không ai được đi học nước ngoài. Nhưng có các đợt chuyên gia Ba Lan, Triều Tiên, Liên Xô đến trường giảng dạy và bồi dưỡng nâng cao cho các giảng viên. Khi không có chuyên gia, chúng tôi lại được chị Thái Thị Liên giúp đỡ chuyên môn đúng đường lối “vừa làm, vừa học” vì chị Thái Thị Liên là người duy nhất tốt nghiệp ở Tiệp. Tôi là giảng viên trẻ nhất, sau 31 năm công tác về hưu năm 1987.
Hà Nội, 10 tháng 10 năm 2006

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.